ĐÍNH CHÍNH NHỮNG SAI LẦM
TRONG SÁCH “ TUYỂN DỊCH VĂN BIA CHÙA HUẾ “
Toà soạn Tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN (THỪA THIÊN HUẾ) có gửi tặng chúng tôi tập sách “TUYỂN DỊCH VĂN BIA CHÙA HUẾ” [ Tạp chí NC và PT số 1 – 2 ( 49 - 50) 2005 do Sở KH và CN Thừa Thiên Huế , phát hành 6/2005 ]. Sách giới thiệu 45 bài văn bia tại 22 ngôi chùa cổ ở Thừa Thiên Huế, do nhà nghiên cứu LÊ NGUYỄN LƯU (L.N.L) sưu tầm, dịch giải và chú thích.
Sau khi đọc xong tập sách, chúng tôi rất ngạc nhiên về sự giải thích một số thuật ngữ, điển tích Phật Giáo và thấy cần b? túc đính chính các sai lầm sau :
I. Bia Chuà BA LA MẬT:
Đại giới đàn: Một lễ lớn của Phật Giáo, dựng đàn ở chỗ tinh nghiêm để truyền giới (giới: điều cấm) cho các đệ tử, cư sĩ, tiếng Phạn là mandâra (Mạn đà la). Giới đàn do Tam sư đứng chủ: Đường đầu hoà thượng (Upadhyaya) là bổn sư của người thụ giới (giới tử); Yết ma hay Kiết ma (Karmadana) phụ trách về pháp và sự (tổ chức lễ); và A đồ lê hay A xà lê còn gọi là giáo thụ (Acarya) lo việc dạy dỗ, hướng dẫn đệ tử. Giới tử gồm 3 bậc: “Tì kheo giới (cư sĩ tu tại gia), Cụ túc giới (đệ tử đã xuất gia) và Bồ tát giới (đã đạt bậc cao nhất). [ LNL chú thích (5), Tr 13]
Căn cứ vào phật điển giải thích:
_ Đàn: Đài bằng đất hoặc gỗ để tôn trí tượng Phật, Bồ Tát và vật cúng trong pháp tu của Mật tông. Có nhiều loại, hình dáng với tên gọi khác nhau:
_ Giới đàn: nơi cử hành nghi thức thuyết giới, truyền giới. Ở Ấn đo thời xưa thường cử hành ngoài trời không lập đàn riêng. Ở Trung Quốc từ đời Đường có luật sư Đạo Tuyên soạn “Giới đàn đồ kinh”, trình bày chi tiết nguồn gốc, tên gọi, hình dáng của giới đàn. Từ đó giới đàn mới có hình thức nhất định.
_ Đại giới đàn: đàn truyền giới được tổ chức long trọng, đúng pháp để trao truyền đại giới (cụ túc giới) cho hàng đệ tử xuất gia. Chỉ những người đã thọ đại giới mới đủ tư cách gọi là Tỳ-kheo (250 giới), Tỳ-kheo-ni (348 giới). Đặc biệt theo truyền thống Phật Giáo đại thừa, trong Đại giới đàn còn truyền Bồ Tát giới cho hàng xuất gia (gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh) và Bồ Tát giới tại gia . Mục đích là khuyến khích tu sĩ, cư sĩ phát tâm từ bi rộng lớn làm các thiện pháp để cứu độ tất cả chúng sinh không phân biệt.
II. Bia chùa DIỆU ĐẾ:
_ Từ Ninh: tên một cung trong cấm thành Huế dành cho các bà Hoàng Thái Hậu ở. Đây chỉ bà TRẦN THỊ ĐƯƠNG (1769 – 1846), mẹ vua Minh Mạng, bà nội Vua Thiệu Trị [LNL chú thích (18) Tr.21].
Căn cứ sử sách triều NGUYỄN (1802 – 1945), từ triều Gia Long đến triều Bảo Đại trong hoàng thành Huế chẳng có cung điện nào được đặt tên là TỪ NINH để dành cho các bà Hoàng Thái Hậu cư trú. Đây là loại từ dùng trong cung cấm để chỉ các bà Thái Hậu, Thái Hoàng thái hậu (ví dụ: Từ Khương, Từ Cung, Đức Thánh Từ, Đức Từ …) TỪ NINH ở đây đúng là chỉ cho Bà Thái Hoàng thái hậu (TRẦN THỊ ĐƯƠNG).
_ Trong bài thơ: “TỊCH CỐC TĂNG”, có lời dẫn của vua Thiệu Trị: Bật sô Hứa Thị pháp danh Liễu Tính … LNL dịch: :( Sư họ Hứa, tên Bật Sô, pháp danh liễu tính” …) [Tr.19 – 23].
Tiếng Phạn: Bhiksu, từ dùng chỉ một người nam xuất gia đã thọ Cụ túc giới .. Âm Hán Việt là Bật-sô, Bức-sô, Tỳ-kheo, Tỳ-khưu). Như vậy ở bài văn này Bật sô không phải là tên riêng, câu trên có nghĩa: “Sư (Bật sô, Tỳ kheo …) họ Hứa, pháp danh Liễu Tính …”.
III. Bia chùa HẢI ĐỨC:
Bài văn ghi hành trạng hoà thượng Phước Huệ khai sơn chùa Hải Đức có câu:
… “Xả ngũ trược chi không hoa,
Sinh cửu liên chi thượng phẩm …”
LNL dịch:
… Lìa bỏ kiếp không hoa năm thứ uẩn (12),
Sinh ra cái thượng phẩm chín tầng sen (13)
Chú thích:
(12) Ngũ uẩn hay ngũ trọc là năm thứ cặn bã tạo nên hình hài cho nên xem như “không hoa” hư ảo chẳng thật.
(13) Sen được xem là phẩm cao nhất vì bao giờ cũng thơm rất thanh khiết [Tr.32 – 33]
Căn cứ Phật điển giải thích:
_ Ngũ uẩn (ngũ ấm, ngũ chúng, ngũ tụ) : sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Chỉ 5 sự tích tụ theo từng loại, tất cả pháp hữu vi. Tượng trưng cho 5 yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân và tâm. Ngoài 5 uẩn ra không có gì gọi là “TA”.
_ Ngũ trược (trọc): chỉ cho 5 thứ nhơ bẩn, cặn đục phát sinh, tăng trưởng trong thời kiếp giảm: kiếp trược (bệnh tật, tai nạn, chiến tranh … phát sinh mọi nơi) – kiến trược (thấy biết sai lầm) – phiền não trược (tham dục, sân hận, phiền não dấy lên) – chúng sinh trược (con người không theo đạo đức, không tin chinh pháp …) – mệnh trược (thọ mệnh con người giảm dần, ngắn ngủi). Vậy ngũ trược (trọc) khác với ngũ uẩn.
_ Cửu phẩm liên đài: 9 phẩm đài sen để đón rước hành giả vãng sinh về Tây Phương tịnh độ của Phật A-DI-Đà. Theo Kinh Quán vô lượng thọ, người tu theo pháp môn tịnh độ nguyện vãng sinh tuỳ theo căn cơ và hành nghiệp nên có 9 bậc cao thấp khác nhau. Cao nhất: Thượng phẩm thượng sinh, thấp nhất là hạ phẩm hạ sinh.
Như vậy ý nghĩa của câu văn trên là tán thán kết quả tu hành của hoà thượng PHƯỚC HUỆ.
“… (Ngài) đã xả bỏ các pháp không thật nơi thế gian đầy 5 thứ nhơ bẩn, để sinh vào phẩm cao nhất trong 9 phẩm đài sen ở cõi cực lạc …”
Trong bài kệ cuối văn bia có câu:
… “sa la song thọ cang phong giao chi …”
LNL dịch:
“… khu rừng song thụ (14) gió thổi lay chuyền …”
Chú thích (14) Song thụ: tên khu rừng nơi có mộ Mã Tổ. Chỉ chung tháp mộ thiền sư [Tr.32 – 33]
Phật điển giải thích: sa-la song thụ là 2 cây sa-la mọc trong khu rừng sa-la, đã được đại đức A-NAN chọn cho Phật THÍCH CA nằm khi ngài nhập Niết bàn. Do đó câu này ám chỉ việc các bậc Thánh, cao tăng lìa đời (nhập diệt, viên tịch). Không liên quan gì đến Mã Tổ hay chỉ chung tháp mộ thiền sư.
IV. Bia chùa QUỐC ÂN : sắc ban bài ký và minh tháp thiền sư HOÁN BÍCH ở chùa Hà Trung , có câu :” … Thập nguyệt , thập cửu nhật triệu tập tứ chúng nhân đẳng ….”
LNL dịch : ngày 19 tháng 10 triệu tập bốn loại tăng chúng ( trang 67-68 ) .
Theo Phật điển giải thích :
_ Tứ chúng : gồm tỳ kheo ( tăng ) , tỳ kheo ni ( Ni ) , Ưu bà tắc ( nam cư sĩ ) , Ưu bà di ( nữ cư sĩ ) . Hoặc chỉ riêng hàng xuất gia là Tỳ kheo , tỳ kheo ni , sa di , sa di ni . Cùng nghĩa với tứ bộ đệ tử , hay tứ bộ chúng .
Như vậy “ Tứ chúng nhân đẳng “ chỉ có nghĩa là những đệ tử xuất gia và tại gia của hoà thượng HOÁN BÍCH . Không phải là bốn loại tăng chúng ( tứ chủng sa môn ) : hữu tu tăng ( giữ giới tu hành chân chính ) – vô tu tăng ( phá giới không có tâm hổ thẹn ) – á dương tăng ( ngu si vô trí ) – chân thật tăng ( chỉ bậc thánh hữu học , vô học ) . Còn nhiều cách phân biệt bốn loại tăng chúng khác nữa
V .Bia chùa TỪ HIẾU :
Bài văn bia ở tháp hòa thượng CƯƠNG KỶ có câu : “ …. Thượng tự cung phủ , tự viện hạ chí thập phương thiện tín lai nhi quy y thụ kýgiả kỳ đa . Tự trưởng tắc thủ tọa kỳ nhất dã , pháp tự tắc sơn tăng hoặc cư sĩ bất hạ tam thập nhân , pháp tử lục bách , giới tử thất bát bách . Ấn tôn sư chi pháp tâm giả hà thâm dã , thụ tôn sư chi pháp mạo giả hà hậu dã …. “ ( trang 98 ) .
LNL dịch :” ….. Trên từ cung phủ , tự viện dưới đến thiện tín thập phương đều về xin quy y đông đảo bậc nhất trong các chùa vậy . Nối dòng tu thì sơn tăng hoặc cư sĩ không dưới ba chục người , đệ tử sáu trăm người , thụ giới bảy tám trăm người . Dấu ấn tâm pháp của tôn sư sâu sắc biết bao , học tập đạo pháp của tôn sư dày dặn biết bao …. “ ( trang 85-86 )
Theo chúng tôi câu trên có nghĩa : “…. Trên từ các bậc tôn quý , các vị tu hành dưới đến hàng tín đồ khắp mọi nơi đều đến xin quy y thụ ký với hòa thượng ( thờ hòa thượng làm thầy để được dẫn dắt , ấn chứng cho việc tu hành ) rất nhiều . Gồm có một vị đứng đầu ( thủ tọa hay thượng tọa ) kế thừa trú trì ; không dưới ba mươi người gồm tăng sĩ , cư sĩ nối tiếp dòng pháp ; sáu trăm người đệ tử quy y ; tám trăm người xin thọ giới trong các giới đàn . Tâm đạo được tôn sư ấn chứng sâu đậm biết bao ; oai nghi được tôn sư truyền dạy đầy đủ biết bao ....”
_ Chú thích ( 10 ) TAM THẾ PHẬT : theo nội điển , Phật có 3 đời , mỗi đời có 1000 vị Phật . Ví dụ : đời quá khứ có Phật Tỳ bà thi . Đời hiện tại có Phật Thích Ca Mâu Ni, đời tương lai chưa xảy ra ( LNL trang 91 )
Theo Phật điển giải thích : TAM THẾ PHẬT là phật A Di Đà ( quá khứ ) , phật Thích Ca ( hiện tại ) và phật Di Lặc ( vị lai ) . Khác với nghĩa của thuật ngữ TAM THẾ TAM THIÊN PHẬT tức 3000 đức Phật trong 3 đời .
Văn bia ghi việc dựng chùa, có câu: “ …Thập khoảnh bố kim, thiện tín dã, vị cảm nghi chi cấp- cô- độc …”.
LNL dịch: “… mười khoảnh trải vàng, kẻ đàn na chưa dám nghĩ là Cấp Cô Độc …(18)
Chú thích: (18) Phật trải vàng kín đất để đổi lấy Kỳ Viên của Cấp Cô Độc làm nơi thuyết pháp. [Tr.83 – 92]
Theo kinh sách Phật giáo ghi: Trưởng giả TU-ĐAT-ĐA (Sudatta) ở thành Xá –vệ vốn có lòng thương người cô đơn, nghèo khổ thường làm việc từ thiện nên được quần chúng tôn xưng là Trưởng giả Cấp Cô Độc. Sau khi quy y Phật THÍCH CA, ông bỏ vàng ra trải khắp khu vườn của Thái Tử Kỳ-Đà, mua cho bằng được để xây dựng tịnh xá dâng cúng cho Phật và Tăng đoàn làm chỗ cư trú, thuyết giảng. Kỷ niệm công đức của ông và Thái tử, Đức Phật đặt tên vườn là: Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên (Cây của Kỳ-Đà, Vườn của Cấp Cô Độc).
Đức Thích Ca đã từ bỏ cuộc sống vinh hoa, phú quý, chấp nhận mặc áo vá, cầm bát xin ăn làm gì có vàng ròng để mua đất xây dựng chùa chiền, tịnh xá như các bậc phú tăng ngày nay!
_ Văn bia ghi hành trạng của Hoà thượng Cương Kỷ.
Mặt sau bia dựng ở tháp hoà thượng có khắc 15 lời nguyện của Ngài:
Nguyện (1) THÂN HÌNH DỊ TỤC, BẤT TỰ BẠCH Y.
LNL dịch: “Thân mình khác lạ, không giống Bạch Y” (37).
Chú thích (37) Bạch Y: tên một vị Phật, tương truyền Hoà thượng Cương Kỷ có một tướng lạ là hàng lông mi dài che lấp cả mắt khi muốn nhìn ai hoặc muốn đọc sách, Sư phải dùng tay vén hàng lông mi lên nhìn, xong thì thả xuống. [Tr. 85 – 93].
Thực ra câu phát nguyện cuả hoà thượng ý nghĩa rất đơn giản, rõ ràng: “Nguyện (đời đời, kiếp kiếp) tôi sinh ra được đầy đủ tăng tướng xuất gia tu hành (đầu tròn, áo vuông) không giống như người ở đời, cư sĩ tại gia”.
Ở Ấn Độ, hàng Bà la môn, người sang trọng thường dùng y phục màu trắng nên Phật giáo dùng thuật ngữ này chỉ cho người thế tục. Không có vị Phật nào danh hiệu là Bạch Y, ngoại trừ ứng thân của Bồ Tát Quan Thế Âm mặc áo trắng ngồi trên toà sen trắng nên được tôn xưng là Bạch Y Quan Âm hay Bạch Y Đại sĩ. Tướng lạ lông mi dài của hoà thượng chẳng liên quan gì đến lời nguyện này.
Nguyện (11): OAN THÂN BÌNH ĐẲNG, ĐỒNG PHÓ LIÊN TRÌ.
LNL dịch: “ oan thân bình đẳng (40), về hội liên trì”.
Chú thích (40) Oan thân: cái thể xác do ngũ uẩn, lục trần, tứ đại hoá hợp thành phải chịu đựng tứ khổ (sinh, lão, bệnh, tử) ai cũng như ai. Con người phải tu hành để giải thoát nó, trở thành pháp thân như Đức Phật. Pháp thân (dharmakaya) là thân đạo lý, có bốn đức (thường, lạc, ngã, tịnh) không vướng vào bốn khổ. Phật còn có báo thân (hay sinh thân, cái thân mang xuống thế) và hoá thân (cái thân biến ra để độ chúng sinh).
(41) Liên Trì: Ao sen chỉ xứ Phật, vì sen thơm ở lẫn với bùn mà không lây nhiễm mùi hôi. [Tr.83 – 93].
Căn cứ Phật điển giải thích :
_ Oan thân bình đẳng : nghĩa là kẻ oán thù với người thân yêu đều giống nhau, không phân biệt.
_ Đồng phó Liên Trì: tất cả đều được vãng sinh Tây phương Tịnh độ của Phật A-Di-Đà (Liên Trì hải hội). Chúng sinh được vãng sanh về tịnh độ đều từ hoa sen hoá sinh, tuỳ căn cơ chia làm 9 phẩm khác nhau để tiếp tục tu học cho đến quả vị giác ngộ. Lời nguyện trên có nghĩa: “tâm không còn phân biệt, mọi chúng sinh đều bình đẳng, cầu cho tất cả đều được vãng sinh về Tây phương Tịnh độ”.
VI .Bia chùa TƯỜNG VÂN
_ Văn bia ở tiền đường Chùa Tường Vân có câu: “Cung văn: Kế tân vương sáp trúc nhất chi lượng chu sa giới; Tu Đạt Đa bố kim mãn địa phúc đẳng hà sa …”.
LNL dịch: Kính nghe Kế tân vương cắm trúc một cành, số tràn tựa cát (14). Tu Đạt Đa trải vàng khắp đất phước dẫy như sông. (15)
Chú thích: (14) chúng tôi chưa rõ điển tích này. (15) Tu Đạt Đa hay Tất Đạt Đa tức Đức Phật Thích Ca. đây là chuyện Phật trả vàng để mua Kỳ viên của trưởng giả Cấp Cô Độc để làm nơi thuyết pháp [Tr.105 – 111].
Theo Phật điển:
_ Nước Kế Tân tức Ca Thấp Di La quốc (P.KASMIRA) ở Tây bắc Ấn Độ dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya). Kế tân vương chỉ vị vua thứ 47 của nước này là A-Dục-Vương. Do trong kiếp quá khứ vào thời Đức Phật Thích Ca, là một đứa trẻ con gặp Phật và phát tâm cúng dường nên về sau tái sinh làm vua A-Dục hết lòng hộ trì Phật Giáo, xây dựng chùa tháp cúng dường khắp cả thế gian.
_ Tu-Đạt-Đa (Sudatta) tức trưởng giả Cấp Cô Độc, người đã bỏ vàng ra trải khắp vườn của Thái tử Kỳ-Đà mua cho được để cúng dường Phật. Dịch giả LNL đã lầm Tu-Đạt-Đa với Tất-Đạt-Đa (S:Siddhãrtha gautama) là tên của Đức Phật Thích Ca khi ngài chưa xuất gia.
Theo ý nghĩa của hai điển tích này câu văn trên tạm dịch: “Kính nghe: Vua Kế-Tân cắm một cành trúc mà công đức trùm khắp thế gian. Ông Tu-Đạt trải vàng khắp đất nên phước báo như cát sông Hằng …”.
LNL chú thích (20) Lộc Dã: đồng hươu. Lộc dã vốn là nơi ở và dạy học của Chu Hy nhà nho thời Tống. Đây chỉ vùng đất am cỏ Tường Vân.
(21) Kê Viên: cũng như Kỳ viên, đất phật, đây chỉ chỗ đất Từ Quang. [Tr.105 – 111]
Điển tích nhà Phật nhưng lại được dịch giả giải thích theo nho! Thực ra:
_ Lộc Dã tức Lộc Dã Uyển [S: Mrgadãva] hay còn gọi là Lộc Dã Viên hay Tiên nhân Viên. Vườn nai là nơi Phật Thích Ca thuyết pháp đầu tiên sau khi thành đạo. Nay là Sarnath nằm cách Varanasi phía Bắc khoảng 6km. chính vua A-Dục cho xây dựng rất nhiều công trình kiến trúc tại đây. Đến thế kỷ XIII nơi này bị Hồi giáo tàn phá nặng nề.
_ Kê Viên Tự: [S: Kurkutãrãma] còn gọi là Kê tước Tịnh xá, Kê đầu mạt tự, Kê viên tăng già lam. Chùa ở thành Ba-Tra-Li-Tử nước Ma Kiệt Đà thuộc Trung Ấn Độ, do vua A-Dục xây dựng, Kê Viên hoàn toàn khác biệt Kỳ Viên.
_ Văn bia dựng ở tháp hoà thượng Tăng thống THÍCH TỊNH KHIẾT, có câu: “sở sinh nhị nam, trưởng giả vi TỊNH HẠNH đại sư, thứ giả đại sư dã hữu dĩ linh nhân, kiến nhi tư vô trước, thế thân chi nan huynh nan đệ…”
LNL dịch: “người con đầu trong hai trai ấy là đại sư TỊNH HẠNH, người thứ hai chính là đại sư khiến ai thấy mà chẳng nghĩ trên đời khó làm anh khó làm em. [Tr.108 -120]
Phật điển ghi chép ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ IV có hai vị đại luận sư:
_ VÔ TRƯỚC (S: ASANGA): sáng lập Duy thức tông. Tương truyền ngài được Bồ Tát Di-Lặc giảng dạy trực tiếp Du-già sư địa luận.
_ THẾ THÂN (S: VASUBANDHU): em ruột ngài Vô Trước. Ban đầu tu tập theo giáo lý Tiểu thừa, sau được anh là Vô Trước giáo hoá bèn chuyển sang hành trì phật pháp Đại thừa. Hai anh em trở thành hai đại luận sư, viết nhiều tác phẩm quan trọng để truyền bá Duy thức tông.
Người viết văn bia đã so sánh hoà thượng Tịnh Hạnh, hoà thượng Tịnh Khiết với hai bậc thánh tăng trên. Anh em ruột xuất gia tu hành, cùng đạt được quả vị cao trong đạo rất ít có.
Câu văn trên tạm dịch: “Sinh được hai trai, con đầu là đại sư Tịnh Hạnh, con thứ chính là đại sư (Tịnh Khiết) vậy. Việc đó khiến cho ai thấy thì nghĩ đến chuyện Vô Trước, Thế Thân ngày xưa, thật khó nhận định về anh , về em ….. “
Cần chú ý, bài văn là do Hoà thượng Trí Quang soạn vào ngày 14 – 2 – 1974 Ngài dùng chữ “ nan huynh, nan đệ”. Còn trong bài châm do hoà thượng Chân đạo Chánh thống (Bích Phong – Quy Thiện) viết năm 1951 Ngài dùng chữ:
“Nghi huynh, Nghi đệ
Vô Trước, Thế Thân”
Nghĩa: … Xứng anh, xứng em
Vô Trước, Thế Thân …
Chữ dùng khác nhưng ý nghĩa giống nhau nhằm đặc biệt ca ngợi công đức to lớn của hoà thượng Tăng thống.
VII .Bia chùa THIÊN HƯNG :
Điển tích “chích lý Tây quy” được dịch giả LNL chú thích:
(57) Sư quảy dép về Tây: lấy tích Mã Tổ sau khi tịch, có người còn gặp ông mang một chiếc dép trên đầu gậy trên đường về xứ Phật (Ấn Độ) [Tr.135 – 140]
Truyện này được chép trong Truyền Đăng lục về Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma. Đời sau thường dùng ám chỉ việc cao tăng lìa đời, không liên quan gì tới Mã Tổ Đạo Nhất đời Đường.
VIII . Bia chùa THIÊN MỤ :
_ Chú thích ( 14 ) : Ba thân ( Tam thân ) là thân ở ba kiếp quá khứ , hiện tại và tương lai ( LNL trang 159 )
Có nhiều cách giải thích trong kinh điển nhưng phổ thông nhất tam thân là pháp thân : sự nhóm họp về lý pháp – báo thân : sự nhóm họp về trí pháp – ứng thân : sự nhóm họp các pháp về công đức .
_ Chú thích ( 54 ) : trước chùa dựng cái tháp nhỏ ( Cổ sát chi tiền kiến tốt – đổ – ba ) . Nay không có dấu tích gì . Xưa tại chùa Diệu Đế cũng có một tháp nhỏ để thờ , rồi cũng thất lạc sau năm 1885 ( LNL trang 161 )
Thực ra cái tháp được mô tả trong câu văn này chính là cái tháp Phước Duyên bảy tầng được vua Thiệu Trị cho xây dựng trước cổng chùa Thiên Mụ vẫn còn tồn tại đến nay . Riêng cái tháp nhỏ bằng ngà voi bên trong có sáu pho tượng phật vàng dùng để làm kiểu mẫu xây dựng tháp Phước Duyên , sau đó vua Thiệu Trị ban cho hoàng trưởng tử Hồng Bảo đem về thờ ở phủ . Năm 1854 sau khi Hồng Bảo phạm tội , gia sản bị tịch thu vua Tự Đức cho đem tòa bảo tháp bằng ngà về thờ tại chùa Diệu Đế . Đến năm 1968 trong biến cố Mậu Thân , tháp bị hư nát , thất lạc .
IX. Bia chùa THIỀN TÔN :
Bia trùng tu tháp năm 1815. LNL chú thích:
(16) Kỳ Viên: hay còn đọc là chi viên, nguyên là một khu vườn do Cấp Cô Độc cúng cho Phật để làm nơi giảng đạo, đất thuộc về Phật sử dụng còn cây thì vẫn của Cấp Cô Độc. Về sau Kỳ viên coi như từ chung chỉ nhà chùa [Tr.180 -184].
Thuật ngữ này rất thông thường trong phật học không hiểu vì sao dịch giả LNL vốn là nhà nho thận trọng lại lầm lẫn, sai lạc mãi!
(xin xem phần giải thích trên đây về Cấp Cô Độc, Kỳ Viên).
(35) Sư Bích Phong, theo LNL: “chưa rõ tiểu sử, chỉ biết Sư tu hành ở chùa Quy Thiện để lại bút tích ở chùa Thánh Duyên núi Thuý Vân và có thi tập chữ hán”.[Tr.184]
Sư Bích Phong họ Nguyễn, nguyên quán làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sinh ngày 30 tháng chạp năm Canh Tý (18 – 2 – 1901). Năm 1914 vào chùa Kim Quang (Huế) lễ hoà thượng Phước Huệ xin xuất gia, được đặt pháp danh là Chân Đạo, pháp tự Chánh Thống. Năm 1937 được Lại Bộ Thượng Thư Thái Văn Toản mời về trụ trì chùa Quy Thiện. Viên tịch ngày 22 tháng chạp năm Đinh Mùi (21 – 1 – 1968). Sư là người uyên thâm Nho –Thích sáng tác nhiều thơ văn Hán nôm, nổi tiếng trong giới cựu học ở Huế.
Văn bia chùa cổ là loại tài liệu rất quý hiếm . Công đức sưu tập dịch thuật của nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu thật vô lượng . Sự nhiệt thành tài trợ của sở KHCN – Tòa soạn tạp chí Nghiên Cứu Phát Triển tại Thừa Thiên Huế để xuất bản tập sách thật đáng hoan nghênh . Rất tiếc người dịch không nắm vững thuật ngữ Phật Giáo nên chú thích , chuyển dịch sai lầm rất nhiều . Rất mong quý vị thận trọng duyệt xét đính chính lại để tái bản . Điều này rất cần thiết và bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu , nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam dưới thời các chúa và vua Nguyễn .
PHÚ XUÂN THỊ GIẢ
Tài liệu tham khảo:
_ TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC HUỆ QUANG (NXB TH HCM – Tập I, II, III, IV, V – 2003 -2004 – 2005)
_ TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC HÁN VIỆT (NXB KHXH – Hà Nội 1998)
_ TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC (Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách – NXB Thuận Hoá, Huế – 1999)